Trong thực tiễn áp dụng thuế GTGT, các giao dịch bán hàng cho thương nhân nước ngoài với nhiều hình thức, địa điểm giao hàng khác nhau đang đặt ra không ít vướng mắc trong việc xác định điều kiện áp dụng thuế suất 0%. Bài viết này tổng hợp và phân tích các quy định pháp luật cùng hướng dẫn của cơ quan quản lý nhằm làm rõ bản chất “hàng hóa xuất khẩu” và ranh giới áp dụng thuế suất GTGT 0%.
Tại điểm a khoản 1 Điều 9 Luật Thuế GTGT 2024 (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định:
"a) Hàng hóa xuất khẩu bao gồm: hàng hóa từ Việt Nam bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; hàng hóa từ nội địa Việt Nam bán cho tổ chức trong khu phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xuất khẩu; hàng hóa đã bán tại khu vực cách ly cho cá nhân (người nước ngoài hoặc người Việt Nam) đã làm thủ tục xuất cảnh; hàng hóa đã bán tại cửa hàng miễn thuế; hàng hóa xuất khẩu tại chỗ."
Tại Công văn số 873/CT-CS ngày 05/02/2026, Cục Thuế hướng dẫn:
"Trường hợp doanh nghiệp nội địa ký hợp đồng bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và giao hàng tại kho ngoại quan nhưng chưa xác định được điều kiện tiêu dùng ở ngoài Việt Nam thì chưa có căn cứ áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% theo quy định.Trường hợp doanh nghiệp nội địa ký hợp đồng bán hàng hoá cho thương nhân nước ngoài và chỉ định giao hàng cho bên thứ 3 là doanh nghiệp Việt Nam có điểm giao hàng thông qua kho ngoại quan thì Bộ Tài chính đã có ý kiến tại công văn số 1872/BTC-CT nêu trên."
👉 Nếu DN nội địa chỉ mới bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và giao hàng tại kho ngoại quan mà chưa đáp ứng điều kiện hàng hóa tiêu dùng ở ngoài Việt Nam thì chưa đủ căn cứ áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%.
Lưu ý:📁 Theo điều 28 Luật Thương mại, xuất khẩu bao gồm việc hàng hóa "đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật." Luật Quản lý Ngoại thương quy định khu vực hải quan riêng phải "có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với phần lãnh thổ còn lại và nước ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu"; đồng thời Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định về khu phi thuế quan là "quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu." Từ Điều 2 Nghị định 134/2016/NĐ-CP, có thể gián tiếp suy luận rằng kho ngoại quan là một loại khu phi thuế quan. Tại Công văn 5177/TCHQ-GSQL năm 2024, Tổng cục Hải quan cũng nêu rõ "Kho ngoại quan được Tổng cục Hải quan công nhận theo Nghị định số 67/2020/NĐ-CP thì được xác định là khu phi thuế quan."👉 Việc đưa hàng hóa vào kho ngoại quan được xem là xuất khẩu theo Luật Thương mại. Tuy nhiên, để được áp dụng thuế suất 0% thì phải đáp ứng điều kiện tại Luật Thuế GTGT.📁 Theo khoản 1 Điều 4 Luật Hải quan thì "Kho ngoại quan là khu vực kho, bãi lưu giữ hàng hoá đã làm thủ tục hải quan được gửi để chờ xuất khẩu; hàng hoá từ nước ngoài đưa vào gửi để chờ xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu vào Việt Nam." Như vậy, hàng hóa đưa vào kho ngoại quan mới chỉ "chờ xuất xuất", chưa thực sự được đưa ra ngoài Việt Nam, chưa đảm bảo được tiêu dùng ngoài Việt Nam.{alertWarning}
Tại Công văn 1872/BTC-TCT ngày 17/02/2025, Bộ Tài chính hướng dẫn:
"Trường hợp doanh nghiệp nội địa bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và được chỉ định giao hàng cho bên thứ ba là doanh nghiệp Việt Nam thông qua kho ngoại quan không đáp ứng được điều kiện hàng hóa xuất khẩu bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, hàng hóa bán cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan và tiêu dùng trong khu phi thuế quan nên không thuộc trường hợp hàng hóa xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC nêu trên."
👉 Nếu DN nội địa bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và được chỉ định giao hàng cho bên thứ ba là doanh nghiệp Việt Nam thông qua kho ngoại quan: không được áp dụng thuế suất 0% (Lí do: bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam nên không được xem là xuất khẩu tại chỗ).
Tại Công văn 558/TCT-CS ngày 20/02/2024, Tổng cục Thuế (nay là Cục Thuế) hướng dẫn:
"Ngày 12/7/2023, Tổng cục Hải quan đã có công văn số 3622/TCHQ-GSQL phản hồi về vướng mắc liên quan đến thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam. Theo đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 90/2007/NĐ-CP ngày 31/5/2007 của Chính phủ về quyền xuất khẩu của thương nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam và khoản 5 Điều 3 Luật quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 ngày 12/6/2017: nếu xác định thương nhân nước ngoài đã có hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam theo các hình thức được quy định trong pháp luật về đầu tư, thương mại, doanh nghiệp; đã có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về thương mại, doanh nghiệp thì không thuộc trường hợp thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam.Trường hợp xác định thương nhân nước ngoài không thuộc trường hợp thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam thì hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài này và được chỉ định cho doanh nghiệp khác được giao hàng tại Việt Nam không thuộc trường hợp xuất khẩu/nhập khẩu tại chỗ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ và điểm c khoản 1 Điều 86 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính.Trường hợp Cơ quan hải quan xác định việc doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu tại chỗ không đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP thì Cơ quan thuế không giải quyết hoàn thuế do không đáp ứng điều kiện về tờ khai hải quan theo quy định."
👉 Thương nhân nước ngoài không thuộc trường hợp thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam (tức là: có hiện diện tại Việt Nam): hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài này và được chỉ định cho doanh nghiệp khác được giao hàng tại Việt Nam không thuộc trường hợp xuất khẩu/nhập khẩu tại chỗ.
Tổng hợp lại như sau:
- Bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và hàng hóa được xuất khẩu ra ngoài Việt Nam cho tiêu dùng ngoài Việt Nam (không bao gồm giao hàng tại kho ngoại quan nhưng chưa xác định được là tiêu dùng ở ngoài Việt Nam): được áp dụng thuế suất 0% (nếu đáp ứng điều kiện khác).
- Bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và hàng hóa được chỉ định giao hàng cho bên thứ 3 là doanh nghiệp Việt Nam:
- Nếu thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam: không được xem là xuất khẩu tại chỗ, không được áp dụng thuế suất 0%.
- Nếu thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam: được xem là xuất khẩu tại chỗ, được áp dụng thuế suất 0% (nếu đáp ứng điều kiện khác).
Tags:
[VAT]
Cục Thuế
GTGT
kho ngoại quan
khu phi thuế quan
Luật Thuế GTGT
xuất khẩu
xuất khẩu tại chỗ
