Giảm trừ thuế không chia đều

“Nếu cả đời không phải đóng thuế TNCN thì sao?”

Đó là câu nói tự trào phúng của cộng đồng mạng trước thông tin của Bộ Tài chính về thu nhập phải vượt 28,6 triệu đồng/tháng mới phải đóng thuế. Mức đã bao gồm các khoản giảm trừ mới về giáo dục và y tế, tối đa khoảng 3,9 triệu đồng/tháng.

Trong niềm vui chưa phải đóng thuế lại có nỗi buồn về mức lương còn thấp - bởi lương chưa đủ cao thì thêm giảm trừ cũng chẳng có ý nghĩa gì. Điều này đặt ra nỗi băn khoăn: liệu lợi ích từ chính sách đã được chia đều cho các nhóm thu nhập? 

Luật Thuế TNCN năm 2025 đã bổ sung thêm hai khoản giảm trừ vào thu nhập chịu thuế, gồm giảm trừ cho giáo dục và cho y tế. Ngày 30/6/2026 vừa qua, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật này, đưa ra mức giới hạn giảm trừ tối đa cho giáo dục và y tế trong một năm lần lượt là 24 triệu đồng23 triệu đồng, kèm theo các điều kiện cụ thể.

Một mục tiêu quan trọng của chế độ thuế thu nhập cá nhân là tính luỹ tiến, hiểu đơn giản là người có thu nhập cao hơn thì đóng thuế với tỉ lệ cao hơn. Biểu thuế của chúng ta đang được xây dựng theo nguyên tắc này: thuế suất biên áp dụng với phần thu nhập tăng thêm được tăng dần từ 5% lên 35%.

Vậy các khoản giảm trừ bổ sung sẽ tác động thế nào đến các nhóm thu nhập? Dễ thấy rằng, thu nhập càng cao, mức thuế suất biên càng cao thì giảm trừ càng có lợi về số tuyệt đối. Ví dụ, với cùng khoản giảm trừ 40 triệu đồng/năm, một người đã ở bậc 3 với mức thuế 20% sẽ được giảm thuế tới 8 triệu đồng, trong khi một người ở bậc 1 với mức thuế 5% chỉ được giảm 2 triệu đồng. Như vậy, vô hình trung, người đã có thu nhập cao lại còn được ngân sách “hỗ trợ” nhiều hơn. Đây chính là lí do khiến giảm trừ vào thu nhập có thể mang tính luỹ thoái, tức có thể khiến tính luỹ tiến vốn có của biểu thuế suy giảm.

Trong khi phía thu nhập cao được giảm nhiều thuế, những người thu nhập thấp hơn ngưỡng chịu thuế lại không được hưởng lợi gì từ khoản giảm trừ này. Chẳng hạn, với người nộp thuế có một người phụ thuộc mà thu nhập thấp hơn 21,7 triệu đồng (15,5 + 6,2), việc thêm giảm trừ không giúp giảm thuế vì số thuế của họ vốn dĩ là không. 

Bên cạnh đó, nhóm thu nhập cao cũng thường có khả năng tận dụng tốt hơn các ưu đãi thuế có điều kiện. Đây là các khoản giảm trừ không cố định một mức mà phải dựa trên số chi thực tế phát sinh. Vì thế, những người có khả năng chi trả các dịch vụ đắt tiền thường được giảm trừ nhiều hơn và dễ đạt đến mức giảm trừ tối đa hơn. Ví dụ, bố mẹ có lương cao cho con học trường quốc tế sẽ được giảm trừ giáo dục nhiều hơn hẳn gia đình không có nhiều điều kiện. 

Thêm nữa, không phải mọi khoản chi cho giáo dục, y tế đều được trừ. Nghị định 253/2026/NĐ-CP đặt ra các điều kiện như: chi y tế phải thuộc danh mục bảo hiểm y tế chi trả, chi giáo dục chỉ gồm học phí tại cơ sở theo quy định, phải có hoá đơn, chứng từ, không được chi trả từ các nguồn khác… Đồng thời, muốn được giảm trừ thì phải tự quyết toán thuế (không được uỷ quyền cho doanh nghiệp). Người có thu nhập cao hơn thường sẽ có nguồn lực hoặc khả năng nắm bắt, hiểu rõ các quy định hơn nên tận dụng được tốt hơn. 

Đơn cử, không phải ai cũng có đủ hiểu biết chuyên môn để xác định một khoản chi khám chữa bệnh có được bảo hiểm y tế chi trả hay không, hoặc nắm rõ cách thức tự quyết toán thuế - nên nhiều người đành chấp nhận bỏ qua khoản giảm trừ mình đáng được hưởng. Đó là chưa kể việc các khoản giảm trừ không được biết đến, điều vẫn xảy ra tại các nước phát triển tại châu Âu. 

Như vậy, ưu đãi dành cho tất cả mọi người không đồng nghĩa với việc mọi người đều có khả năng hưởng lợi như nhau.

Kinh nghiệm quốc tế sẽ cho chúng ta một số cách giải quyết các bất cập này. Thứ nhất, một số nước áp dụng cơ chế giảm trừ giảm dần theo thu nhập, tức thu nhập càng tăng thì mức tối đa được giảm trừ càng giảm. Điều này cho phép thu hẹp chênh lệch lợi ích từ các khoản giảm trừ giữa người thu nhập cao và thấp. 

Thứ hai, một số nước, tiêu biểu là khu vực Bắc Âu, đã đơn giản hoá việc tính và khai thuế. Dựa trên dữ liệu điện tử từ các cơ quan liên quan, số tiền giảm trừ được tổng hợp sẵn vào tờ khai thuế và cá nhân chỉ cần xác nhận lại khi quyết toán. Điều kiện giảm trừ cũng có thể cắt giảm, mang tính phổ thông hơn, đảm bảo dễ xác định với mọi người dân.

Thứ ba, giảm trừ vào thu nhập đã được chuyển thành giảm trừ thuế trực tiếp tại một số nước. Cụ thể, số tiền thuế giảm được xác định dựa trên hoàn cảnh của người nộp thuế, không giảm vào thu nhập nên không bị phụ thuộc vào thuế suất biên cao hay thấp. Thậm chí, nếu tiền thuế được giảm trừ lớn hơn số tiền thuế phải nộp, người dân còn được hoàn lại như một khoản trợ cấp cho người thu nhập thấp (ví dụ như chế độ EITC tại Hoa Kỳ).

Cuối cùng, việc có thêm những khoản giảm trừ chắc chắn sẽ giúp người dân giảm bớt gánh nặng thuế. Tuy nhiên, một điều cũng quan trọng là ngân sách hụt đi tương ứng cần trở thành khoản hỗ trợ cho đúng đối tượng. Sau một thời gian triển khai chính sách rất mới này, Chính phủ chắc chắn phải có những đánh giá định lượng cụ thể về sự phân bổ ưu đãi giữa các nhóm, từ đó có những điều chỉnh để đảm bảo công bằng và hiệu quả hơn.

Tác giả: Thái Mạnh Cường


Ảnh: magnify
 

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn

Bài viết chỉ chứa đựng thông tin chung và nhằm mục đích tham khảo, không phải tư vấn chuyên môn cho trường hợp cụ thể của người đọc. Vui lòng cân nhắc kĩ càng trước khi sử dụng để đưa ra các quyết định.

Ủng hộ MVT
chỉ 1 click
Shopee 8/8